[Miền Tây xưa cũ] CHUYỆN XỨ BẠC LIÊU.

Nay chợt nghe được bài hát “Yêu cô gái Bạc Liêu” sao nó ngọt ngào, da diết và gây thương nhớ quá. Nhiều địa danh trong bài hát cũng gây sự tò mò, muốn tìm hiểu. Tình cờ lượm lặt được bài viết phải nói là rất hay về Bạc Liêu nên chuyenvuive.com lượm về chia sẻ với quý độc giả.

THƯƠNG RẤT NHIỀU ĐẤT VÀ NGƯỜI BẠC LIÊU!…

Trong Lục Tỉnh Nam Kỳ mình thì Bạc Liêu là xứ mới nhưng có lịch sử phát triển,thơ nhạc không hề thua kém nơi nào .Bạc Liêu trong tâm tình Miền Nam có gì đó vô cùng đặc biệt, tạo cho du khách cảm giác vừa lạ lùng vừa thân thương.

Chợ Bạc Liêu.

Trong cuộc đời tôi chưa yêu người Bạc Liêu nên không biết cảm giác đó ra sao,nhưng quả tình người Bạc Liêu có nét bí ẩn và gây rất tò mò.

Người Bạc Liêu là ba sắc tộc xoay vần gồm Khmer,Hoa và Việt nên da trắng,dáng cao ,mắt mí lót ,mặt khá góc cạnh khác với người Cà Mau da ngăm ngăm bánh ít. Đặc biệt cái giọng Bạc Liêu nghe qua thì ai cũng biết, nó ngộ lắm, chớt chớt mà thanh thanh. Rồi những cái tên như An Trạch, Long Điền,Hộ Phóng, Gành Hào,Vĩnh Trạch, Gía Rai, Nọc Nạng Ninh Qưới.. làm người ta phải tò mò.

1. Lịch sử Bạc Liêu

Đất Bạc Liêu xưa thời Mạc Cửu thuộc quyền cai quản của tiểu quôc Hà Tiên .Thời chúa Nguyễn là đất Trấn Di bao gồm cả Sốc Trăng.Thời Gia Long thuộc toàn vùng Gia Định thành.Thời Minh Mạng trong Nam Kỳ lục tỉnh thì Bạc Liêu thuộc tỉnh An Giang.

Năm 1867 sau khi Pháp chiếm hết 6 tỉnh tỉnh Nam Kỳ, Pháp dần xóa tỉnh An Giang rồi đặt ra các hạt Thanh tra.

Năm 1876 Bạc Liêu thuộc hạt thanh tra Sốc Trăng sau đổi thành hạt tham biện Sốc Trăng. Pháp thiết lập hạt tham biện Bạc Liêu năm 1882 trên cơ sở tách 3 tổng Quảng Xuyên, Quảng Long và Long Hưng của hạt tham biện Rạch Giá hợp với 2 tổng Thạnh Hưng và Thạnh Hòa tách từ hạt tham biện Sốc Trăng chuyển sang.

Năm 1900 các hạt tham biện dổi thành tỉnh, tỉnh Bạc Liêu ra đời có 2 quận Cà Mau và Vĩnh Lợi, sau có thêm Vĩnh Châu, tỉnh lị đặt ở làng Vĩnh Lợi.

“Tốt thay phong thổ Bạc Liêu

Có danh muối đỏ ruộng nhiều lắm thay”

Pháp đặt tên Bạc Liêu là vì ngay chợ của tỉnh lỵ có con rạch tên Bạc Liêu, Chợ Bạc Liêu nằm trên địa phận làng Vĩnh Hương.

Cái tên Bạc Liêu có từ ngày 18-12-1882 khi Thống Đốc Nam kỳ Le Myre De Villers ký nghị định thành lập hạt Bạc Liêu.

“Bạc Liêu nước chảy lờ đờ

Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu”

Bạc Liêu là tên cái rạch, cái chợ ngay trên rạch đó. Bạc Liêu có nghĩa gì thì nhiều giai thoại.

Lý giải tên Bạc Liêu có hai cách

– Bạc Liêu theo tiếng Tiều là Pò Léo (薄寮), nghĩa là xóm nghèo, làm nghề hạ bạc, tức là chài lưới, đánh cá, làm biển. Pó (薄) phát âm Việt thành Bạc và Léo (寮) phát âm thành Liêu.

– Bạc từ chữ Poanh Liêu, tức là nơi có đồn quân Lào trú đóng ngày xưa.

Như nói trên, xứ này là xứ Tiều, sau là Việt và Khmer. Thiên Địa Hội ở Bạc Liêu còn đông hơn Chợ Lớn Sài Gòn.

Ai cũng biết Bạc Liêu là xứ Tiều, ngoài chợ nghe tiếng Tiều nhiều hơn tiếng Việt.

“Trời mưa dít ạm hoan tùa

A hia phề chuối xuốt gùa thăm em”

Tới 1917 tỉnh Bạc Liêu có 4 quận là:

– Quận Cà Mau

– Quận Vĩnh Lợi

– Quận Vĩnh Châu

– Quận Gía Rai

Năm 1947 cắt Bạc Liêu và Cà Mau ra, Cà Mau thành tỉnh An Xuyên. Năm 1955 thời TT Ngô Đình Diệm nhập Bạc Liêu và Sốc Trăng lại thành tỉnh Ba Xuyên. Năm 1964 tỉnh Bạc Liêu được đặt lại gồm 4 quận là Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Giá Rai và Phước Long.

Có thể nói trong hết thảy đất của Nam Kỳ lục tỉnh thì đất Bạc Liêu (cùng Cà Mau) mang tiếng xa xôi cách trở nhứt nhưng lại rộng dân thưa, là nơi được khai phá cuối cùng ở Nam Kỳ lục tỉnh.

Nơi mà lưu dân Việt tới cắm dùi đầu tiên ở Bạc Liêu xưa là đất của tổng Thạnh Hưng (Vĩnh Châu ngày nay).

Bạc Liêu có một lợi thế rất tốt là một mặt giáp biển, một mặt có đồng bằng, biển có muối có cá tôm và bên đồng bằng ruộng lúa phì nhiêu cò bay thẳng cánh.

Muối Bạc Liêu chính là muối Ba Thắc vang danh Lục Tỉnh.

Hồi xưa khi ruộng đất ở Nam Kỳ còn nhiều nên dân Việt không thèm ngó tới xứ Bạc Liêu-Cà Mau cách trở xa xôi này.

Thực ra đất Bạc Liêu không tốt hơn đất của Tiền Giang, Hậu Giang để làm ruộng. Tới mùa đánh cá ngư dân từ Gò Công giong tàu chạy về biển Bạc Liêu đánh cá, cất vài cái chòi tạm ở một thời gian rồi quày trở về xứ.

Nhưng khi đất đai bắt đầu ít mà người đông thì lưu dân nghèo Nam Kỳ ngó tới Bạc Liêu.

Đọc “Con nhà nghèo” của Hồ Biểu Chánh ta sẽ thấy vợ chồng Con Lựu thằng Cu em Cai Tuần Bưởi ở xóm Ụ Giữa, Đập Ông Canh xứ Gò Công vì nghèo, vì biệt xứ nên đã di dân về làng Vĩnh Mỹ Bạc Liêu để làm mướn và khai hoang.

Trước khi đi, anh Ba Cam dặn hai vợ chồng Lựu rằng:

“Hai em xuống Bạc Liêu ráng lo làm ăn, đừng có trở về Gò Công. Chừng nào giàu có rồi sẽ về, chớ nghèo về họ khi dễ, không nên về làm chi.”

Cuối cùng 25 năm sau,từ tá điền nghèo khổ, hai vợ chồng con Lựu thằng Cu và đứa con trai lỡ làng năm nào đã thành danh trên xứ Bạc Liêu,”… người ta kêu Cu là ông Hương sư, người ta gọi vợ là bà Hương sư, vợ chồng có vài chục mẫu ruộng, có năm sáu con trâu, có nhà kê táng, có lúa đầy bồ, nhứt là có một đứa con sẽ làm Kinh Lý”.

“Bạc Liêu là xứ cơ cầu

Dưới sông cá chốt, Triều Châu trên bờ.”

Xứ “cơ cầu” là gì? Tự điển dịch “cơ cầu” có nghĩa là nghiệt ngã, hiểm độc và một nghĩa nữa là khổ cực, thiếu thốn.

“Chờ anh cho hết sức chờ

Chờ cho “ến xại” lên bờ “khui hui”

Đọc ca dao Bạc Liêu là biết vùng này người Tiều rất đông. Ngày nay trong câu chữ văn nói giao tiếp ở Bạc Liêu vẫn còn dư âm tiếng Tiều, thí dụ kêu anh chị là chế, hia…

Bạc Liêu là tỉnh có đông người Hoa nhứt nhì Nam Kỳ lục tỉnh ,có lẽ chỉ sau Chợ Lớn.Người Hoa Bạc Liêu là người Triều Châu còn gọi người Tiều. Người Tiều đến đây từ thời phản Thanh phục Minh Thiên địa hội tức thế kỷ 17, lúc đó vùng này hoang vu, năng lác mọc đầy

Nói chung trong 300 năm Nam Kỳ lục tỉnh, lúc nào người Trung Hoa cũng chạy qua Nam Kỳ nếu bên xứ họ có biến động chánh trị,nghèo đói. Suốt thời Nguyễn kéo dài qua thời Pháp họ vẫn chạy qua Nam Kỳ.

Bạc Liêu đón người Tàu lỉa khỉa từ năm 1644 tới tận 1949, cá biệt đầu thế kỷ 20 bên TQ có đói và chạy trốn Mao Đỏ ,dân Tàu chạy qua Bạc Liêu đông đảo.

Vì Tàu ở đông thành ra Thiên Địa Hội được tổ chức lan tràn khắp Bạc Liêu khiến người Pháp lo ngại. Giám đốc Nội Vụ trình bày với hội đồng quản hạt ngày 28/8/1882:

”Nếu cái đầu của Thiên Địa Hội ở Chợ Lớn thì thân hình của Thiên Địa Hội ở Bạc Liêu.“

Người Tiều lộng hành ở Bạc Liêu, họ độc quyền làm muối, buôn bán, lập Thiên Địa Hội, an ninh ở đây giống như một giang san riêng, ngoài chợ Bạc Liêu không nói tiếng Việt, gia đình chỉ nói toàn tiếng Triều Châu và các ông hương chức hội tề không biết nói tiếng Việt. Họ xem vùng Bạc Liêu như đất riêng của họ.

Tỉnh Bạc Liêu sau người Việt thì đông đảo nhứt là người Miên, kế đến Triều Châu.Người Miên thích ở đất giồng để làm rẫy như ở Vĩnh Châu

Trong văn hóa Nam Kỳ lục tỉnh thì Bạc Liêu là xứ của đại điền chủ. Vì đất mới còn khá tốt, làm ruộng thu huê lợi dồi dào mà lại rộng.

Bạc Liêu vào năm 1927, có nhiều làng rộng 20.000 ha, làng Khánh An rộng đến 140.000 ha

Đất của ông hội đồng Trần Trinh Trạch (1872-1942) là cha công tử Bạc Liêu gồm 74 sở điền, với 110.000 ha đất lúa, gần 100.000 ha đất muối.

Nhìn diện tích đất của đại điền chủ,đất làng ở Bạc Liêu hết hồn ,bạn có biết tỉnh Gò Công lúc đó có diện tích bao nhiêu không?, tỉnh Gò Công có diện tích là 58.400 ha.

Những nhà giàu Bạc Liêu chia bậc kể ra :Hội đồng Trần Trinh Trạch, Châu Văn Quai (Tô Quai – chủ tô muối), Ngô Phong Điều (Hội đồng Điều), Chung Bá Vạn (chủ nhân rạp hát “Chung Bá”, now là rạp Cao Văn Lầu):, Tô Lai Thêm (cha “cậu” Hai Lũy), Đốc tổng Hậu, Hội đồng Sổn (Huyện Sổn), Cao Minh Thạnh (thân sinh Cao Triều Phát)….

Còn những điền chủ vừa vừa như ông hội đồng Trần Đắc Danh và ông Lâm Mẫn Huệ… thì không ai nhớ. Toàn dân Tiều.

Nói về sự giàu có của ông hội đồng Trần Trinh Trạch thì phải nhắc tới chuyện ông này nhờ lấy vợ mà giàu.

Ông Trạch lấy con gái ông Bá Hộ Bì là bà Phan Thị Mùi.

Bá Hộ Bì (1836 -1906) có nhiều tên như Phan Hộ Biết, Phan Thạnh Tài, Phan Văn Bì Phan Công Hộ. Có giai thoại nói ông này gốc Gò Công, nhưng nhiều người kể lại ông này cũng dân Triều Châu vì hàng ngày luôn xài tiếng Tiều lúc giao dịch và tiếp xúc với mọi người… Sanh thời ông này có 7 bà vợ từ Việt tới Tiều.

Bá hộ Phan Văn Bì là người có ruộng đất nhiều nhứt tỉnh Bạc Liêu. Mỗi lần đi thăm điền, Bá hộ Bì đều đi bằng ghe lớn chạm trổ hình long phụng như vua của tiểu quốc.

Trần Trinh Trạch xuất thân nhà nghèo, học hành rồi làm thơ ký ở Tòa Bố tỉnh Bạc Liêu.Bá hộ Bì hay đến Tòa Bố tỉnh Bạc Liêu để đóng thuế điền địa. Ruộng đất nhiều quá mà trình độ ông có hạn, thành ra ông phải nhờ sự giúp sức của thằng thơ điền địa Trần Trinh Trạch. Lâu dần sanh tình,ông Bì thích thằng thơ ký nghèo rồi gả con gái Phan Thị Mùi cho Trần Trinh Trạch. Sau cưới ông bá hộ cắt chia cho một sở đất riêng cả trăm ha và giúp vốn làm ăn cho thằng rể điên điển.

“Chim kêu Ngồ Ố Láng Giài

A hia xủa bố, a mùi ùm chai”

Sau khi về già ông Bá Hộ Bì chia đất cho con cái gần hết, nhưng tụi kia cắt bán từ từ, thằng rể “có học” Trần Trinh Trạch thâu hết, dần dà đất nở rộng ra bao la bát ngát,Trần Trinh Trạch thành đại điền chủ.

Rất giàu có nhưng vợ chồng ông Trạch sống rất đạm bạc,đặc biệt ông chung thủy chỉ có một bà vợ mà thôi.

Người Tiều Bạc Liêu từ từ bị đồng hóa thành Việt vì họ lấy vợ Việt ,cô vợ Việt giúp chồng quản lý của cải,bán buôn. Dân Bạc Liêu là dân lai mình gà đít vịt khá nhiều, cái mặt đậm nét Trung Hoa nên nhìn rất kỳ bí là vậy.

“Lấy chồng người Tiều thì cầm chìa khóa

Lấy chồng người Quảng thì tĩu na má”

2. Thương nhớ Bạc Liêu

Nhạc sĩ Thanh Sơn có bài “Yêu cô gái Bạc Liêu”:

“Nghe em hát về Bạc Liêu mà lòng tôi thấy thương em nhiều

Nhà cô Hai ở miệt Giá Rai

Người con gái có ngón đờn thiệt hay

Dẫu xa tôi vẫn đi tìm để được nghe tiếng đờn kìm

Cô Ba có nhà Trà Kha đời cần lao nước da mặn mà

Bàn tay chai bởi cào muối nua

Đời nhà nông sống quanh quần ruộng lúa nắng mưa, mưa nắng hai mùa”

– Giá Rai:

Cái tên Giá Rai có bà con với Rạch Giá.Giá Rai là gì? là rạch cây giá, nhưng Rai là gì thì chưa rõ, có khi là chữ Khmer.

Đầu TK 20 ở Bạc Liêu xứ Gía Rai có ông Hương chánh Luông- Nguyễn Thành Luông tục danh ông Tám Luông trong vụ án “Đồng Nọc Nạng”.

– Nọc Nạng là gì?

Là cây nọc và cây nạng.Nọc là cây cắm xuống đất,nạng là cây ngang gác lên cây nọc. Vì xưa nước lên mấp mé ông bà ta phải làm những hàng nọc nạng như cái sào phơi đồ inox bây giờ đặng mà treo lúa lên cao đó.

Vụ “Nọc Nạng” là do gia đình ông Tám Luông bị cướp đất,hậu quả 5 người đã tử nạn. Vụ này liên quan tới Bang Tắc.

Chồng ca sĩ Hoàng Oanh là ông dược sĩ Mã Gia Minh tức nhạc sĩ Mai Châu là là cháu nội ông Mã Ngân còn kêu là Bang Tắc – một nhà giàu khét tiếng Bạc Liêu mà nhiều sách báo kêu là “cường hào”.Vì trong vụ án đồng Nọc Nạng chấn động Bạc Liêu hồi 1928 thì ông Bang Tắc là đầu dây mối nhợ.

Khi ra tòa có ông Bang Tắc ra làm chứng, sau đó không ai nhắc tới ông này nữa.

“Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên

Bạc Liêu chữ đặt bình yên dân rày

Mậu Thìn vốn thiệt năm nay

Một ngàn hai tám, tiếng rày nổi vang

Phong Thạnh vốn thiệt tên làng

Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung

Anh em Mười Chức công khùng

Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan…”

Hăm lăm tháng chạp rõ ràng,

Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.

Chợ đông đương nhóm tự nhiên,

Thấy cò lính lại, người liền đến coi.

Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi,

Hai cò bảo lính : “Đòi làng đến đây.

Có trát biện lý bằng nay,

Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh !

Thị Trân là vợ huyện Lành,

Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.

Biện Toại nhà ở chốn ni ?

Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.

Hai cò bước xuống đò nghiêng,

Bảo làng với lính đi liên một đò.

Phong Thạnh hương quản tên Cho,

Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa :

“Xuống đây, ắt bọn nó ra,

Dữ lành chưa biết việc mà làm sao ?”

Nước ròng đò xuống đi mau,

Tám giờ đã tới lao xao lên liền.

Cò bảo lính đứng liên liên,

Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.

Trong nhà Mười Chức luận bàn,

Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly :

“Dầu con thác xuống âm ti… “

– Gành Hào:

Sau 1975 nhiều địa danh Miền Nam bị “Bì Cắc hóa” mà rõ nhứt là Cầu Kinh thành Cầu Kênh, Gành Ráng thành Ghềnh Ráng, Cầu Gành thành Cầu Ghềnh .

Nhưng đố ai dám đổi Gành Hào Bạc Liêu thành Ghềnh Hào.

Ca dao Nam Kỳ xưa có câu:

“Anh đây lên thác xuống gành

Đá mòn sông cạn quyết chung tình với em”

Người Miền Nam còn kêu gành là “ghình”.Gập ghình là biến ân của gập gành. Trên thực tế cái xứ Gành Hào rành rành vậy mờ lên truyền thông,báo chí người ta viết là Ghềnh Hào.

“Ầu ơ!

Dí dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

Khó đi, mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”

Gành là cái doi đất có sông chảy mà nước xiết xiết, còn Hào là tên một cái gì đó,có khi tên ông nào đó tên Hào.

Sông Gành Hào chảy qua Bạc Liêu và Cà Mau, sông cũng lớn, ghe tàu tấp nập.

Có một nhạc sĩ tên Sao Biển trong những năm hụp lặn ở xứ Bạc Liêu đã phát triển điệu nhạc trong bài “Dạ cổ hoài lang” ra nhiều bài hát rất nổi tiếng, xiển dương văn hóa Nam Kỳ lục tỉnh.

Đồn là ông mê cô nào ở Gành Hào,trong một đêm Gành Hào, ông say một hình bóng Bạc Liêu:

“Thuở ấy thanh xuân trăng Gành Hào tròn như chiếc gương

Giờ tóc pha sương qua Gành Hào tiếc một vầng trăng”

Những Đau xót Lý Chim Quyên,Điệu buồn Phương Nam,Trên sông Cửu Long,Trở lại Bạc Liêu… không có ai hay hơn ông

Tiếc thay!người ta đặt tên Đông Hải xa lạ, thực ra tên quận Gành Hào nghe hay hơn nhiều

– Cầy Quay Bạc Liêu

Nhạc sĩ Phan Ni Tấn từ Gia Nã Đại xa xôi xài câu ca dao làm bài “Lý con sáo Bạc Liêu” ngọt ngất với câu:

“À ơi! Ơi à à ơi!

Trời mưa lâm râm ướt dầm bông sói

Bậu đi lấy chồng sao chẳng nói ớ ơ ớ ơ qua hay?

Trách chi câu thề khi nào cầu quay nọ hết quay

Thì qua với bậu mới đứt dây cang thường

Mà nay con sáo sang sông

Sáo sang sông rộng theo người dưng về xứ xa”

Lật lịch sử Nam Kỳ, qua các địa danh, bạn có thể lượm rất nhiều Cầu Quay, gần nhứt là Cầu Quay Khánh Hội,Cầu Quay ở Mỹ Tho, qua Sa Đéc, về Sóc Trăng, Rạch Gía, Bạc Liêu cũng có.

Người Pháp vô tình đã để lại cho Nam Kỳ mình một mỹ tự rất ngộ là Le pont tournant “Cầu Quay”, cái cầu sắt và khi ghe tàu đi qua nó sẽ quay nhường chỗ.

“Bao giờ cầu nọ hết quay

Thì ta với bậu mới hết dây cang thường”

Năm 1911,Thống đốc Nam Kỳ nghi ngờ Hồ Biểu Chánh có liên lạc với nhóm Gilbert Trần Chánh Chiếu chống Pháp nên đổi ông xuống Bạc Liêu làm ký lục ở toà bố tỉnh Bạc Liêu.Nhờ đó ta thấy trong vài cuốn sách của Hồ Biểu Chánh có nhắc tới Bạc Liêu, thấy rõ cách duy nhứt đi từ Sài Gòn về Bạc Liêu và ngược lại là quá giang ghe thương hồ.

Đến 1937 Bạc Liêu mới có xe đò Lục Tỉnh

Ngày nay mấy cái cầu quay hết cái nào còn quay được, thậm chí bị đổi tên nữa.

Cầu Quay Bạc Liêu thành cầu Kim Sơn, Cầu Quay Rạch Giá thành cầu An Hòa. Hình như chỉ có Mỹ Tho là giữ nguyên tên Cầu Quay.

– Họ Cao Triều ở Bạc Liêu

Họ Cao này là người Tiều chánh gốc. Nổi tiếng giàu cũng nổi tiếng là chịu học.

Người họ Cao đầu tiên,ông Cao Cần Thiệt là người Tiều từ TQ đến Bạc Liêu khai hoang vào năm 1845. Ông Thiệt lấy bà Trình Thục Giang và năm 1858 sanh ra Cao Minh Thạnh. Ông Thạnh học hành đàng hoàng, làm ăn giàu có làm Hương chủ làng Vĩnh Lợi. rồi thăng lên đốc phủ sứ hàm.

Ông Cao Minh Thạnh lấy bà Tào Thị Xút sanh ra sáu trai và hai gái.Trai là: Cao Triều Chấn,Cao Triều Chánh, Cao Triều Trực, Cao Triều Trung, Cao Triều Phát và Cao Triều Hưng.Con gái út là cô Chín Cao Thanh Khiết (Cao Thị Kiết) mà Cao Đài Tây Ninh sau phong làm Cửu Nương Diêu Trì Cung.

Cô Chín Cao Thanh Khiết 21 tuổi lập gia đình mà không có con, năm 1920 qua đời khi 25 tuổi.

Ông Sáu Cao Triều Phát (1889-1956) là con thứ năm ông Cao Minh Thạnh, ông Phát từng tham gia Hội Ðồng Quản Hạt Nam Kỳ.

Năm 1932, ông Phát theo Ðạo Cao Ðài và có chức Bảo Thếm (Minh Chơn phái).

Cao Triều Phát sau theo Việt Minh, uống nước nguồn Miền Bắc.

Ngày 27 tháng 7 năm 1947 Cao Triều Phát góp 100,000 đồng để đấu giá một cái áo lụa của Chủ tịch HCM. Hồ chủ tịch khen “Dù xa cách, Chính phủ và tôi lúc nào cũng nghĩ đến công nghiệp của ông đối với Tổ quốc, đối với cuộc kháng chiến và rất mong có ngày được gặp ông…”

Sau 1954, Cao Triều Phát cùng vợ và hai con tập kết ra Bắc. Ở HN ông làm Chưởng quản Cửu Trùng Đài (Giáo Tông) của Hội Thánh Cao Đài Duy Nhứt.

Ngày 9 tháng 9 năm 1956 ông mất tại Hà Nội do bị xuất huyết bao tử.

-Hai anh em tướng Lâm Quang Thơ và Lâm Quang Thi

Thiếu Tướng Lâm Quang Thơ (1931-1985) là Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Vị Quốc Gia Ðà Lạt VNCH.

Trung Tướng Lâm Quang Thi (1932 – 2021) Tư lịnh Tiền phương Quân đoàn I VNCH .

– Thiếu Tá Mã Thành Nghĩa: Tiểu đoàn trưởng 411 ĐPQ TK Bạc Liêu ngày 30/4/1975 đã tự sát bằng súng colt 45 tại căn cứ Cái Dầy, bà vợ cũng tự sát chết theo chồng.

Sau 1975 sử “cách mạng” Bạc Liêu ghi:

“Thiếu tá ác ôn Mã Thành Nghĩa, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 411 chạy suốt đêm và cùng đường hắn tự tử”.

“Ngày 30 tháng 4-1975, biết thế nào cũng phải đền tội, Thiếu tá Mã Thành Nghĩa đã tự sát bằng súng Rulô”

– Giai thoại Hắc Bạch công tử đốt tiền có thực không?

Lục Tỉnh thời Pháp có vô số đại điền chủ và công tử nhà giàu

Bạch công tử Lê Công Phước là dân Mỹ Tho,còn Trần Trinh Huy dân Bạc Liêu là hắc công tử

Họ du học bên Pháp và chịu chơi nổi tiếng

Chịu chơi tức là dám bỏ tiền lớn làm cái ko ai dám nghĩ, như Ba Huy mua máy bay, Phước George dám mua ba chiếc ghe chài lớn của đốc phủ Màu làm ghe hát lưu diễn, lập gánh hát Huỳnh Kỳ không cần lời cho vợ hát.

Ba Huy nổi tiếng trong các vũ trường, thì George Phước mê cải lương.

Thời Pháp tại Sài Gòn có một huê khôi đẹp nổi tiếng khuynh nước khuynh thành ,đổ quán xiêu đình.Đó là cô Ba Trà – Trần Ngọc Trà. Cô Ba Trà là dân Cần Đước.

Giai thoại Hắc-Bạch công tử lấy tiền bộ lư 500 đốt để lấy le cua Ba Trà, sau đó nấu đậu xanh.

Theo giai thoại, để nấu sôi được nồi chè có 1kg đậu xanh trong thời gian gần 1 tiếng đồng hồ, Hắc Công tử đã đốt hết 10.000 đồng Đông Dương. Còn Bạch Công tử chỉ đốt số tiền 1.000 đồng.

Mười ngàn đồng rất lớn, bạc muôn, gia tài nhà giàu trung lưu xưa chỉ có 500 đồng.

Cho nên khó tin.

Rồi có giai thoại nói hai ông đốt tiền để cua đào hát Phùng Há, tìm cây son hoặc tờ 5 đồng bị lọt dưới sàn.

Bà Phùng Há sau đó làm vợ Phước George, ông lập gánh Huỳnh Kỳ cho bà.

Thực ra giai thoại đốt tiền là dân gian thêu dệt. Nhà giàu Nam Kỳ xưa không cư xử ba trợn vậy.

Khi còn sống và tỉnh táo bà Phùng Há khẳng định trong những năm chung sống, bà chưa bao giờ nghe chồng cũ mình kể chuyện lấy tiền giấy con công đốt để thi nấu chè đậu xanh với công tử Bạc Liêu. Bà Phùng Há còn nói Ba Huy khá keo kiệt, đi xe còn trả giá thì làm gì có chuyện lấy tiền nấu chè.

Giai thoại này không thấy ghi trong sách của những học giả nổi tiếng Nam Kỳ xưa.

Nhưng sau 1975 lại um sùm .Nó muốn diễn giải rằng bọn Nam Kỳ rất giàu, ăn chơi sa đọa. Thực ra điền chủ Nam Kỳ nghèo và phá sản một phần là do tài sản bị tịch thu chia cho nông dân.

Thành ra phê phán nhạc sĩ Thanh Sơn dám viết là:”Nghe danh Công Tử Bạc Liêu, Đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu”.

Người Miền Nam không ai kêu nấu trứng, chính xác là luộc hột gà hột vịt. Mà đâu ra lấy tiền đốt lửa luộc hột gà hột vịt?

NGUYỄN GIA VIỆT

Visited 12 times, 1 visit(s) today

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Cart

Your Cart is Empty

Back To Shop